Sản phẩm,  Tư vấn lập quy hoạch

QUY HOẠCH CHI TIẾT XÂY DỰNG TỶ LỆ 1/500 ĐIỂM DU LỊCH ĐỀN BÀ VŨ, XÃ CHÂN LÝ – HUYỆN LÝ NHÂN-TỈNH HÀ NAM

     Đền thờ Bà Vũ hay đền Thánh Mẫu thuộc thôn Vũ Điện xã Chân Lý huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam là ngôi đền có từ thế kỷ 15.

     Nơi đây thờ bà Vũ Thị Thiết hay “Vũ nương Công chúa”. Không những là một nguời đàn bà Trinh liệt mà còn là biểu tượng có tính lịch sử của người con gái Nam Sang – người con gái Việt Nam đảm đang trung hậu.

     Bên cạnh Đền Bà Vũ còn có đền thờ Đông Hải Đại Vương Đoàn Thượng – Một cựu thần nhà Lý nổi lên chống nhà Trần để khôi phục nhà Lý. Xưa Đoàn Thượng cùng con trai về Vũ Điện sau được nhân dân lập đình thờ. Trải qua chiến tranh và tàn phá của thiên nhiên ngôi đình không còn. Nhân dân đã rước sắc phong và bát hương về thờ bên cạnh đền Bà Vũ. Tại đây nhân dân còn xây dựng chùa Bái Ân thờ Phật . Quần thể kiến trúc nơi đây đã được Bộ văn hóa ra quyết định số 281/QĐ-BT ngày 24/03/1993 công nhận Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.

     Hàng năm Đền Bà Vũ có hai ngày hội lớn. Ngày 20 tháng 02 kỷ niệm ngày sinh và ngày 20 tháng 08 âm lịch là ngày mất của Mẫu. Trong những ngày lễ có tới hàng ngàn người tới dự Phật tử có từ 300-500 người. Hội đình thờ Đông Hải Đại Vương mở vào ngày 9/2 âm lịch. Trong các ngày lễ trên có tổ chức rước kiệu lễ chay, lễ mặn và nhiều trò chơi dân gian.

     Trong những năm qua được sự quan tâm của lãnh đạo chính quyền các cấp và sự nỗ lực đóng góp của nhân dân, di tích đã được tu bổ khang trang. Lễ hội ngày một đông với nội dung phong phú nhưng do địa điểm bị hạn hẹp Đền Bà Vũ quá nhỏ bé chưa đúng với ngôi đền xưa, các thiết chế phục vụ lễ hội còn thiếu và chưa đáp ứng được yêu cầu như bãi đỗ xe, bến thuyền, nơi biểu diễn nghệ thuật, tổ chức trò chơi dân gian, nơi mua sắm đồ lễ, nghỉ ngơi cho khách… Đặc biệt là đường vào Đền quá nhỏ hẹp.

     Đền Bà Vũ được xác định là điểm du lịch văn hóa tâm linh và lễ hội nằm trong quy hoạch tổng thể phát triển du lịchcủa tỉnh Hà Nam và nằm trên tuyến Du lịch sông Hồng của Tổng cục Du lịch có khả năng thu hút khách du lịch lớn.

     Để tạo có sở pháp lý cho việc quản lý khai thác sử dụng đất đai và lập các dự án đầu tư hạ tầng và trùng tu tôn tạo tạo nên một địa điểm du lịch hấp dẫn gắn kết với các điểm du lịch khác trong vùng và các địa phương lân cận, UBND tỉnh Hà Nam cho phép lập Quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 điểm du lịch đền Bà Vũ, xã Chân Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

phoi-canh-tong-the

1. Vị trí và giới hạn khu đất nghiên cứu quy hoạch

Điểm du lịch đền Bà Vũ có diện tích 8,77 ha.

Bao gồm 2 khu vực:

  1. Khu Đền Bà Vũ: (bao gồm Đền Bà Vũ, Chùa Vũ Điện, đình Vũ Điện và đường dẫn vào Đền) có diện tích 8,38 ha, có ranh giới xác định như sau:
  • Phía bắc giáp vùng trồng màuvà khu dân cư;
  • Phía nam giáp vùng trồng màu ;
  • Phía đông giáp đê Đại Hà;
  • Phía tây giáp sông Hồng.

2. Khu vực Đền Tam Quan: có diện tích 0,39 ha, có ranh giới xác định như sau:

  • Phía bắc giáp sông Hồng;
  • Phía nam giáp khu dân cư;
  • Phía đông giáp đê bối và khu dân cư;
  • Phía tây giáp sông Hồng.

2. Bố cục không gian kiến trúc toàn khu

a. Khu đền Bà Vũ

* Đền Bà Vũ

  • Xây dựng lùi vào phía sau đền trên khu nghĩa địa cũ
  • Xây dựng hai nhà Tả vu Hữu vu để có nơi đón khách chuẩn bị lễ…
  • Mở rộng sân trước đền cả hai phía trong đê và ngoài đê bao. Trên sân sẽ lập đàn cầu siêu, tổ chức thả hoa đăng và thả cá phóng sinh. Phía sau đều đắp quả đồi thấp làm thế tựa. Công trình được xây dựng lại theo kiến trúc xưa. Các vật liệu của ngôi đền cũ được sử dụng lại: đá kè chân cột, đồ nội thất.

* Chùa Vũ Điện

  • Chùa được dịch chuyển ra khu vườn ngô ở phía Tây.
  • Xây dựng nhà soạn lễ (Tả vu) và nhà trai giới cho nhà chùa. Công trình được xây dựng theo kiến trúc truyền thống.
  • Xây dựng nhà đốt vàng mã ở phía sau khu vực đền và chùa
  • Mở rộng sân trước cổng đền chùa cả phía trong và ngoài đê bao.
  • Mở đường xuống bến thuyền với độ dốc 8-10% đảm bảo cho việc rước kiệu thuận lợi an toàn.

* Bến thuyền 1 xây dựng trên bờ sông Hồng, phía trước đền bà Vũ. Phục vụ đưa đón khách lên xuống bến thuyền.

* Đình Vũ Điện

  • Đình thờ Thành hoàng làng – được bố trí trên nền đình xưa. Đình được xây dựng đẹp, khang trang, có Tả vu Hữu vu, phía trước có hồ bán nguyệt.
  • Công trình được xây dựng theo kiến trúc truyền thống.

* Nhà tiếp đón:

  • Nhà tiếp đón được đặt ở cạnhđền Bà Vũ. Nhà tiếp đón có phòng tiếp khách, có phòng chiếu phim, nói chuyện, hội thảo và trưng bày tranh ảnh, sa bàn về khu di tích.
  • Nơi đây sẽ làm cho du khách hiểu được phần nào về khu di tích và lựa chọn cho mình thời gian thích hợp để đi tham quan và dự lễ hội.
  • Tại đây hàng năm cũng có thể tổ chức triển lãm các tác phẩm nghệ thuật. Tranh, tượng, ảnh, thơ ca về chủ đề Vũ Nương, Đoàn Thượng và cảnh quan tươi đẹp của di tích.
  • Công trình được xây dựng theo kiến trúc truyền thống.

* Khu dịch vụ

  • Các công trình dịch vụ như quán bán đồ lễ, hàng giải khát ăn uống, hàng lưu niệm…được bố trí trên phía đông đường nối đê bao và đê Đại Hà; hai bên sân trước cổng đền ngoài đê bao để phục vụ du khách.
  • Các công trình đều xây dựng theo kiến trúc truyền thống.

* Khu các trò chơi dân gian: Bố trí phía sau đền Bà Vũ. Trong khu này sẽ tổ chức nhiều trò chơi dân gian trong ngày lễ hội như kéo co, bịt mắt, đập niêu, đẩy gậy, đấu cờ và bắt vịt, đi cầu kiều.

* Khu nhà khách:

  • Vị trí: Đặt ở phía đông đường nối từ đê Đại Hà ra đê bao.
  • Để đảm bảo cho du khách có thể ăn nghỉ lại khi dự lễ hội và vào thăm di tích, xây dựng một khu nghỉ cho khoảng 8- 100 khách. Số khách còn lại sẽ được nghỉ ngơi tại các nhà dân theo kiểu du lịch nhân dân.
  • Nhà nghỉ làm theo kiến trúc truyền thống.

* Nhà ăn uống giải khát

  • Vị trí: Đặt phía đông đường nối từ đê Đại Hà ra đê bao
  • Phục vụ cho du khách ăn uống và có thể sắm đồ lễ mặn.

* Tái định cư và dịch vụ: Bố trí hai bên đường nối đê Đại Hà và Đê bao. Tại đây sẽ bố trí tái định cư cho các hộ dân phải di chuyển trong giải phóng mặt bằng và cho nhân dân xây dựng làm dịch vụ điểm du lịch.

b. Khu đền Tam Quan

  • Tôn tạo lại đền Tam Quan
  • Mở rộng sân trước cổng đền, đảm bảo cho việc tổ chức lễ hội.
  • Làm dốc xuống bến thuyền.

c. Hệ thống cây xanh, mặt nước.

  • Một số ao nhỏ được liên kết và cải tạo thành hồ cảnh quan trước khu Đình và Khu trò chơi dân gian.
  • Hồ vừa tạo cảnh đẹp, cải tạo vi khí hậu, vừa là nơi tổ chức các trò chơi dân gian như đi cầu kiều, bắt vịt…
  • Hệ thống cây xanh được trồng để tạo bóng mát, trang trí tạo cảnh cho di tích.
  • Sử dụng các loại cây cao bóng mát truyền thống tại khu đình, đền chùa như đa, đề, si…
  • Các loại có dáng đẹp như đại..
  • Các loại có hoa thơm như ngọc lan, ngâu, sói. Ven hồ trồng liễu, lộc vừng, bụt mọc, móng bò.
  • Cây ven đường trồng móng bò, si, muồng…
  • Phối kết các loại cây tầng cao, tầng trung bình, tầng thấp và thủy sinh.